Giáo dục & Khoa học

VỀ SỰ ĐỐI LẬP GIỮA BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG

ReadzoGợi ý để tìm hiểu về sự đối lập "bóng tối" và "ánh sáng" trong các tác phẩm Hai đứa trẻ, Vợ nhặt, Chữ người tử tù và Vợ chồng A Phủ.

Mộc Tuyền

Mộc Tuyền

08/05/2015

7623 Đã xem

Nếu khảo sát những hiện tượng đối lập trong cuộc sống, thì có lẽ hai hình ảnh “bóng tối” và “ánh sáng” sẽ thường được người ta nghĩ đến. Chúng là một trong số những cặp đối kháng rất “khó chịu”. Chúng gợi liên tưởng đến những cặp đối lập khác, như ngày và đêm, như sự thanh khiết và thấp hèn, sự khoáng đạt và gò bó... Quan hệ giữa chúng là một sự tương phản “không đội trời chung”. Giả sử bên kia bán cầu, ánh sáng ngự trị thì chắc chắn ở nửa còn lại, bóng tối sẽ bao trùm. Muốn xua đuổi bóng tối, hãy mang một ngọn đèn đến. Và nếu muốn ánh sáng bị khuất lấp, hãy che kín không gian lại trong sự tối tăm. Nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực. Những hiện tượng vốn dĩ đã quen thuộc trong hiện thực sẽ được kết hợp với bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩ để gợi nên ý nghĩa sâu xa. Sự tương phản vốn có giữa “bóng tối” và “ánh sáng” trong đời thật chẳng những không nằm ngoài quy luật đó, mà nó còn là tiền đề cho nhiều suy ngẫm mang tính triết lí đã được nhiều tác giả văn học mang vào trang viết của mình.

 

Nhìn lại các tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn lớp 11 và 12 phổ thông, chúng ta có thể nhận thấy rất nhiều lần sự đối lập giữa bóng tối và ánh sáng xuất hiện.

 

Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, chúng ta bắt gặp thứ ánh sáng leo lét, èo uột, nhỏ bé, yếu ớt… phát ra bằng hình hài của những “hạt ánh sáng”, những “khe ánh sáng”, những “hột sáng”… le lói, dật dờ trong không gian. Đó là cái “quầng sáng thân mật” xung quanh ngọn đèn dầu ở hàng nước chị Tý. Đó là tia sáng xuyên qua khe hở từ cái tiêm tạp hóa nhỏ xíu, ọp ẹp của hai chị em Liên. Ánh sáng cũng tỏa ra từ gánh hàng phở “xa xỉ” của gia đình bác Siêu. Ánh sáng của thiên nhiên cũng thoắt ẩn thoắt hiện từ bầy đom đóm bay trong đêm. Và ánh sáng cũng đến từ những ngôi sao xa xôi, lấp lánh trên bầu trời. Ánh sáng trong Hai đứa trẻ không phải là ít. Nó rất nhiều. Nhưng Thạch Lam lại miêu tả nó ở mức độ thu nhỏ tối đa. Quả thật, ánh sáng có tồn tại nhưng không đủ để có thể xua đi đêm tối. Vì đêm tối quá dày. “Tối hết cả, tối con đường từ ngõ ra sông, tối con đường qua chợ về làng”. Bà cụ Thi cũng mang tiếng cười khanh khách của mình “đi dần vào bóng tối”. Không gian chìm vào một “đêm mùa hạ êm như nhung”, “đường phố và các ngõ con lấp đầy bóng tối”. Ở đây không chỉ là sự đối lập sáng – tối, mà chúng ta còn nhận thấy sự đối lập rõ ràng giữa cái ít ỏi hạn hẹp với cái bao la vô cùng. Ánh sáng ít ỏi bao nhiêu thì bóng tối lại vô cùng bấy nhiêu.

 

Trong truyện ngắn Chữ người tử tù, sự đối lập ấy lại xuất hiện. Vào cái đêm Huấn Cao cho chữ viên quản ngục, người ta cũng bắt gặp một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. “Một người tù, cổ đeo gông, chân vướng xiềng” vẫn ung dung, tự tại, dậm tô “những nét chữ trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ”. Trong khi đó, thầy thơ lại, viên quản ngục, vốn là đại diện cho nhà lao phong kiến, lại “khúm núm, run run” trước sự uy nghiêm của con người sáng tạo cái đẹp: Huấn Cao. Nhưng nói thế thôi chưa đủ. Ta còn thấy, giữa chốn nhà lao bẩn thỉu, “tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”, trong cái không gian tối tăm của bốn bức tường giam, vào một đêm cuối cùng ngột ngạt dễ dẫn đến cảm giác bức bối khi biết trước rằng… chỉ ngày mai nữa thôi mình sẽ phải chịu án chém, người tù Huấn Cao vẫn như tỏa rạng hào quang dưới ngọn đuốc sáng rực đang soi tỏ khung cảnh buồng giam. Ngọn đuốc sáng trưng xua đi bóng tối phủ trùm. Quả là, trong đêm ấy, ánh sáng đang chiến thắng.

 

Sự đối lập sáng-tối trong Vợ chồng A Phủ không rõ ràng như ở hai tác phẩm được nói đến ở trên. Thế nhưng, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra một chi tiết rất “đắt”. Đấy là hành động tưởng chừng như vô nghĩa, của nhân vật Mị, trong đêm tình mùa xuân: hành động “xắn mỡ, cho thêm vào đĩa đèn để thắp lên cho sáng”. Ta nhớ Mị đã từng muốn chết ở cái lần cầm nắm lá ngón trong tay tìm về gặp bố, nhưng chính sự hiếu thảo đã kéo Mị lại với cuộc sống “con dâu gạt nợ” để tiếp tục giúp gia đình trả món nợ truyền kiếp cho thống lí Pá Tra. Rồi tưởng chừng từ đó trở đi,  Mị chai sạn mất rồi, tưởng chừng như Mị đã chấp nhận kiếp sống này mà không mảy may một lần vượt thoát nào nữa. Thế nhưng đêm tình mùa xuân ở Hồng Ngài đã như một “chất xúc tác”, làm khơi dậy bản năng phản kháng vốn vô cùng mạnh mẽ ở người con gái ấy.  Bản năng phản kháng như hòn than âm ỉ cháy trong lòng Mị, chỉ đợi một làn gió đủ mạnh để thổi bùng lên. Không khí mùa xuân ở Hồng Ngài, tiếng trẻ con cười nói vui đùa… và đặt biệt là tiếng sáo gọi bạn đi chơi, đã thật sự trở thành làn gió, làm bừng tỉnh tâm thức Mị. Nó khiến Mị nhớ thời còn son của mình. Mị nhớ mình “thổi lá cũng hay như thổi sáo”. Rồi Mị “cả gan” uống ừng ực từng bát rượu. Trong cơn say, Mị ý thức rằng mình còn trẻ, còn rất trẻ. “Mị muốn đi chơi”. Kết quả của chuỗi hành động rất “lạ” ấy ở Mị là đỉnh điểm “thắp đèn lên” và với tay lấy chiếc váy hoa, định mặc vào để đi chơi tết. Khoan hãy nói đến chuyện Mị bị A Sử bắt lại, chúng ta hãy nhìn cái cách mà nhà văn kể về Mị. Rằng từ khi sống ở gia đình thống lí, Mị được trao cho một căn phòng “nhỏ xíu”. Căn phòng chỉ có chiếc cửa sổ như “một lỗ vuông bằng bàn tay”. Từ trong phòng, nhìn ra ngoài thông qua cái cửa sổ đó, “chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Không gian của Mị tối lắm. Đêm mùa xuân ấy, không ai nói, chúng ta cũng hiểu là bóng tối quay quắt khắp xung quanh Mị. Nhưng ngày thường Mị quen rồi, vì “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Điều đó cũng có nghĩa là “ở lâu trong bóng tối, Mị cũng quen tối rồi”. Chỉ đến khi Mị ý thức thật sự về số phận mình, thì cái khao khát xua đi bóng tối ấy mới xuất hiện. Một hành động “xắn ống mỡ, cho vào đĩa đèn, thắp lên cho sáng” cũng đủ để cho thấy nỗ lực của Mị, nỗ lực vượt thoát khỏi bóng tối để hướng đến một điều gì đó tươi sáng hơn .

 

Trong Vợ nhặt, Kim Lân cũng mang vào tác phẩm một chi tiết “thắp ánh sáng” giống như vậy. Tràng, trên con đường dẫn thị - người vợ mới của mình - về nhà, đã thực hiện một hành động rất xa xỉ trong thời buổi lúc bấy giờ. Anh vào chợ, mua hai hào dầu về để thắp đèn trong nhà. Thắp đèn, “chuyện thường ngày ở huyện”, thế tại sao chúng ta có thể gọi đó là một hành động “xa xỉ”. Có lẽ, ai đọc Vợ nhặt cũng biết, ở truyện ngắn này, Kim Lân đã viết về kiếp sống của những người nông dân trong hoàn cảnh trước năm 1945. Đó là cái “đêm đen điêu tàn” trước Cách mạng tháng Tám. Khoảng thời gian trong Vợ nhặt là lúc nạn đói năm bốn mươi lăm diễn ra đến mức ghê gớm, cùng cực, hơn hai triệu đồng bào miền Bắc chết đói. Cơm gạo còn không có để mà ăn, người ta cần no cái bụng, và cần được tiếp tục sống. Chẳng ai có đủ tâm trí mà nghĩ đến chuyện làm cho nhà cửa sáng sủa hơn. Nhưng Tràng lúc này nghĩ khác. Không phải vì Tràng giàu có hơn người, cũng không phải vì anh muốn tỏ ra bản thân phải ga-lăng khi có người đàn bà bên cạnh. Lời giải thích đơn giản cho hành động đó, là Tràng muốn làm cho khung cảnh u ám, mờ mịt, tăm tối, bế tắc… vây quanh mình, trở nên quang quẻ hơn, tươi sáng hơn, có sức sống hơn, để củng cố tinh thần và sống tiếp. Thậm chí là phải tiếp tục bám víu lẫn nhau mà sống. Hôm nay, Tràng đâu chỉ có một mẹ, một con như mới hôm qua, Tràng còn cưu mang thêm một người đàn bà. Nhưng người đàn bà ấy, anh không xem là gánh nặng. Trái lại, thị chính là một sự “xúc tác” làm thắp sáng lòng ham sống và khao khát sống-cho-ra-người ở một chàng trai ngờ nghệch, giữa nạn đói thê thảm, giữa lằn ranh sống chết mong manh.

 

Bóng tối và ánh sáng, cùng với bản chất đối lập giữa chúng đã được các nhà văn mang vào trang viết của mình. Vậy, sự phản ánh đó có những ý nghĩa gì?

 

Ở Hai đứa trẻ, bóng tối tượng trưng cho hoàn cảnh sống tù đọng, lụi tàn bao trùm phố huyện nghèo. Ánh sáng tượng trưng cho sự khao khát vươn lên của những kiếp người tàn nơi đó. Tất cả họ mơ ước một điều gì đấy tươi sáng hơn cho cuộc sống hàng ngày của mình. Và vì thế mà họ chờ đợi đoàn tàu mang ánh sáng từ Hà Nội về, chạy vụt ngang qua. Đoàn tàu có âm thanh ồn ào. Đoàn tàu có đồng và kền lấp lánh, những thứ kim loại mang tính chất phản quang càng khiến cho vật thể này trở nên sáng rực. Nó là một thế giới khác hẳn, đẹp hơn, rực rỡ hơn, đối lập hoàn toàn với cái ao tù chật chội ở phố huyện nghèo nàn.

 

Ở Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân cũng dùng bóng tối để tượng trưng cho không gian đề lao đầy góc khuất của cái xấu, cái ác, của sự tàn nhẫn, lừa lọc, chết chóc, đau khổ… Ánh sáng ngọn đuốc là biểu tượng cho thiên lương rực sáng của Huấn Cao. Ánh sáng tỏa rạng gian phòng giam chính là sự chiến thắng của thiên lương đối với sự tàn nhẫn, là sự chiến thắng của nhân cách đối với cái xấu, cái ác. Đó chính là tiền đề để lời khuyên của Huấn Cao đối với viên quản ngục được thốt lên rõ ràng từ chữ một, rất đĩnh đạc, đầy sức cảm hóa.

 

Trong Vợ chồng A Phủ và Vợ nhặt, bóng tối và ánh sáng cũng tượng trưng cho hoàn cảnh thực tại và khao khát ở tương lai. Với Mị, cái không gian tối ấy chẳng khác nào kiếp “con dâu gạt nợ” mà cô phải trải qua. Bởi vì Mị là con nợ truyền kiếp nên phải chịu sự áp chế của sức mạnh thế lực thống trị (cường quyền). Bởi vì Mị là con dâu của gia đình Pá Tra nên tinh thần luôn bị con ma vô hình của gia đình này kìm kẹp (thần quyền). Đó là bóng tối của cường quyền và thần quyền đày đọa tinh thần và thể xác Mị. Khi ý thức được thực tại phũ phàng đó, Mị thấy mình cần phải chủ động thắp sáng bóng đêm. Tương tự như vậy, hành động thắp đèn của Tràng trong “đêm tân hôn” cũng dường như có chung ý nghĩa. Tràng muốn gọi ánh sáng về với mình, để xua đi đêm tối ngột ngạt bao trùm xóm ngụ cư. Có lẽ anh tin rằng, nếu không gian thay đổi theo hướng sa1ng sủa hơn thì ắt hẳn cũng khiến tinh thần của con người trở nên tươi mới hơn. 

 

Có thể nói, dù được biểu hiện ở những trường hợp khác nhau, nhưng hình ảnh bóng tối và ánh sáng trong các tác phẩm văn học này đều gặp gỡ nhau ở những nét nghĩa chung. Bóng tối tượng trưng cho hoàn cảnh sống của nhân vật. Đó là một hoàn cảnh mang tính chất tiêu cực, dễ khiến người ta cảm thấy mệt mỏi và yếu đuối. Đó là “phố huyện nghèo”, là “nhà lao”, là “xóm ngụ cư trong nạn đói”, là “căn buồng kín mít”. Tất cả đều tối tăm và không lối thoát. Rộng ra hơn, “bóng tối” gợi liên tưởng đến đời sống xã hội lúc bấy giờ với nhiều góc khuất cố hữu. Ánh sáng, ở một chiều hướng ngược lại, tượng trưng cho sự cao khiết về tinh thần, như ước mơ, như thiên lương, như khao khát vượt thoát, như nỗ lực phản kháng. Và thông qua cách thể hiện này, ta có thể nhận ra tấm lòng nhân đạo của các nhà văn. Các nhà văn đều nhận ra một điều tuyệt vời của cuộc sống, là trong đêm tối, con người ta vẫn không nguôi ước muốn hướng về ánh sáng. Thậm chí, cuộc đời càng tăm tối thì tinh thần hướng sáng của con người càng mạnh mẽ hơn gấp bội. Không có gì dập tắt được khao khát chính đáng ấy ở họ.

 

Cái chết về thể xác có thể đau đớn và đáng sợ nhưng không đáng sợ bằng cái chết về mặt tinh thần. Bóng tối của cuộc đời có thể làm mệt mỏi, đau đớn cho thể xác. Thế nhưng, chúng ta không được tự mình từ bỏ cái quyền được ước mơ, được sống với ước mơ và được thực hiện ước mơ. Ánh sáng của cuộc sống có thể nhỏ nhoi nhưng tác dụng vực dậy tinh thần cho con người lại vô cùng tuyệt vời. Hướng về ánh sáng, con người ta lạc quan hơn, họ có động lực để bám sâu vào cuộc đời hơn, họ sẽ thêm tin tưởng vào một tương lai nhiều thay đổi. Văn học truyền tải cho chúng ta thông điệp đó. Và thông qua sự nhận thức thông điệp này, chúng ta củng cố tinh thần thêm vững vàng hơn.

Bạn nghĩ sao về bài viết này ?

Bình luận về bài viết VỀ SỰ ĐỐI LẬP GIỮA BÓNG TỐI VÀ ÁNH SÁNG

Bài viết mới đăng

wanna join us!

Hãy tham gia cùng chúng tôi

Tại ReadZo, có rất nhiều cơ hội để phát triển kĩ năng viết đồng thời tạo dựng nguồn doanh thu. Nếu bạn đang tìm kiếm một phương thức kiếm tiền online thì ReadZo sẽ giúp bạn.

Tìm hiểu thêm
Trở thành tác giả chuyên nghiệp và tự chủ tài chính