Blog của tôi!

Nhận Định Về Đinh Bộ Lĩnh và Triều Đại Ông Dựng Nên

Readzoblog của tôi

Lê Văn Lộc

Lê Văn Lộc

13/11/2014

3101 Đã xem

Nhận định về Vua Đinh Tiên Hoàng và triều đại ông dựng nên.

Nhà Đinh là Triều Đại phong kiến trong lịch sử Việt Nam 968-980:

Lịch sử:

1/Đinh Tiên Hoàng: tên thật là Đinh Bộ Lĩnh (924-979)

 Cha của ông là Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ, giữ chức thứ sử Hoan Châu. Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, nương nhờ người chú ruột là Đinh Thúc

 Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép:

 “Vua mồ côi cha từ bé, mẹ họ Đàm đưa gia thuộc vào ở cạnh đền sơn thần trong động. Vào tuổi nhi đồng, vua thường cùng bọn trẻ con chăn trâu ngoài đồng. Bọn trẻ tự hiểu kiến thức không bằng vua, cùng nhau suy tôn ông làm trưởng. Phàm khi chơi đùa, thường bắt bọn chúng chéo tay làm kiệu khiêng và cầm hoa lau đi hai bên để rước như nghi trượng thiên tử. Ngày rỗi, thường kéo nhau đi đánh trẻ con thôn khác, đến đâu bọn trẻ đều sợ phục, hàng ngày rủ nhau đến phục dịch kiếm củi, thổi cơm. Bà mẹ thấy vậy mừng lắm, mổ lợn nhà cho bọn chúng ăn. Phụ lão các sách bảo nhau: "Đứa bé này khí lượng như thế ắt làm nên sự nghiệp, Chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối thì đã muộn". Bèn dẫn con em đến theo, rồi lập làm trưởng ở sách Đào Áo. Người chú của vua giữ sách Bông chống đánh với vua. Bấy giờ, vua còn ít tuổi, thế quân chưa mạnh, phải thua chạy. Khi qua cầu ở Đàm Gia Nương Loan, cầu gãy, vua rơi xuống bùn, người chú toan đâm, bỗng thấy hai con rồng vàng hộ vệ vua, nên sợ mà lui. Vua thu nhặt quân còn sót, quay lại đánh, người chú phải hàng. Từ đấy ai cũng sợ phục, phàm đi đánh đến đâu đều dễ như chẻ tre, gọi là Vạn Thắng Vương.”)

Qua đọan tiểu sử trên ta thấy Đinh Bộ Lĩnh sinh ra trong dòng dõi con quan, nhưng cha ông mất sớm nên không để lại được gì cho ông ngoài kí phách hơn người. Tuổi nhỏ của ông đã thể hiện ông là người có tài về chiến đấu đánh trận. Chính khí phách và lòng dũng cảm và cũng có một sự may mắn mà sau này ông làm nên đại sự. Việc nên ngôi của ông đã đánh dấu thay đổi một thời kỳ, mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử Việt. Chỉ tiếc họ Đinh làm vua không lâu dài.

Ông sinh ra ở thôn Kim Lư, Làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng (nay thuộc Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình). Ông là con của Đinh Công Trứ, nha tướng của Dương Đình Nghệ, giữ chức thứ sử Hoàn Châu.

Đinh Tiên hoàng đế có 3 người con trai là Đinh Liễn, Đinh Toàn và Ðinh Hạng Lang. Trong đó

- Đinh Liễn (có tên khác là Đinh Khuông Liễn) là con trai cả

- Đinh Toàn (có tên khác là Đinh Tuệ), do Hoàng hậu Dương Vân Nga sinh

- Đinh Hạng Lang là con út .

Ngoài 3 người con trai, vua Đinh còn có cả con gái trong đó có:

- Công chúa Phất Ngân lấy Lý Công Uẩn

Thống nhất Giang sơn:

Năm 944, Ngô Quyền mất, anh/em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi của nhà Ngô, xưng Dương Bình Vương. Các nơi không chịu thuần phục, nhiều thủ lĩnh nổi lên cát cứ các vùng thường đem quân đánh lẫn nhau.

Con trưởng của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập bỏ trốn. Dương Tam Kha nhận Ngô Xương Văn - con thứ của Ngô Quyền - làm con nuôi. Năm 950, Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, trở thành Nam Tấn Vương. Ngô Xương Ngập được đưa về, cũng làm vua, là Thiên Sách Vương. Đó là thời Hậu Ngô Vương.

Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Đến năm 965, Ngô Xương Văn chết, con Ngô Xương Ngập là Ngô Xương Xí nối nghiệp. Nhưng vì thế lực suy yếu nên lui về giữ đất Bình Kiều. Quý tộc nhà Ngô, các tướng nhà Ngô cùng các thủ lĩnh địa phương đều nổi dậy chiếm cứ một vùng. Bắt đầu từ đó hình thành thế mà sử sách gọi là loạn 12 sứ quân.

Thời kỳ đó Đinh Bộ Lĩnh cũng tập hợp dân chúng ở vùng Hoa Lư. Sau đó, ông cùng con trai là Đinh Liễn sang đầu quân trong đạo binh của sứ quân Trần Minh Công tức Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình). Đinh Bộ Lĩnh cưới Trần Nương và trở thành con rể của Trần Minh Công. Sau khi Trần Minh Công mất, Đinh Bộ Lĩnh thay quyền, đưa quân về Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác.

Loạn 12 sứ quân dẫn đến tình trạng xóa bỏ chính quyền Trung ương, xu hướng chia cắt phân tán lực lượng tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực xâm lược mà trực tiếp là cường quyền Trung Hoa thâu tóm và khôi phục lại ách đô hộ cũ.

Đinh Bộ Lĩnh sinh ra trong một thời kỳ đầy loạn lạc và đó là thiên thời cho Đinh Bộ Lĩnh làm nên sự nghiệp cho mình, và để lại tiếng thán phục cho đến muôn đời sau khi đọc lại người ta vẫn ngưỡng mộ con người tài giỏi này làm nên nghiệp lớn.

Mở đầu sự nghiệp dẹp loạn, Đinh Bộ Lĩnh đã đánh đám loạn thần Lữ Xử Bình và Kiều Tri Hựu ở triều đình Cổ Loa, là những quyền thần nhà Ngô trực tiếp tranh giành ngôi vua

Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc là một sứ quân mạnh, có thành cao hào sâu. Theo thần phả Độc nhĩ đại vương ở Thanh Oai, Đỗ Cảnh Thạc là người trí dũng mưu lược, Đinh Bộ Lĩnh phải bàn mưu tính kế mà đánh. Ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân bao vây 4 mặt thành và tiến đánh bất ngờ vào Trại Quyền. Bấy giờ Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà, quân tướng không ứng cứu được nhau, bị mất cả thành luỹ, đồn trại, lương thực bèn bỏ thành chạy. Hai bên giao tranh hơn một năm sau, Đinh Bộ Lĩnh hạ được thành. Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên chết.

Sứ quân Nguyễn Siêu chiếm Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội). Được tin Đinh Bộ Lĩnh sắp đánh. Nguyễn Siêu đem 1 vạn quân đóng ở Thanh Đàm dùng Nguyễn Trí Khả làm tiên phong, Trần Côn làm tá dực, Nguyễn Hiền làm tổng quản các đạo quân, ngày đêm luyện tập, đào hào đắp luỹ để phòng bị. Trong trận giao tranh đầu tiên Đinh Bộ Lĩnh bị mất 4 tướng là Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết và Cao Sơn. Lần thứ 2 Đinh Bộ Lĩnh bày binh bố trận giao chiến. Nguyễn Siêu chia một nửa quân ở lại giữ thành, một nửa cùng sứ tướng vượt sông tìm viện binh của các sứ tướng khác. Gần tới bờ bắc, gặp gió lớn, thuyền bị đắm. Đinh Bộ Lĩnh biết tin, bèn sai võ sĩ nửa đêm phóng lửa đốt doanh trại. Quân Nguyễn Siêu tan. Nguyễn Siêu tử trận.

Sứ quân Kiều Công Hãn đóng tại Phong Châu. Trước thế mạnh của sứ quân Đinh Bộ Lĩnh, Kiều Công Hãn đem quân xuống phía nam để hợp sức với Ngô Xương Xí. Khi đến thôn Vạn Diệp (Xã Nam Phong, Nam Trực, Nam Định) bị một hào trưởng địa phương là Nguyễn Tấn đem quân chặn đánh, Kiều Công Hãn bị thương chạy đến Lũng Kiều thì mất.

Theo thần tích làng Tiên Xá thì Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du cũng không chống nổi Đinh Bộ Lĩnh, bỏ chạy về Cần Hải (Cửa Cồn, Quỳnh Lưu, Nghệ An) đánh nhau vài trận rồi chết ở trang Hương Ái.

Cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẫn quân lên vùng Tam Đái, Nguyễn Khoan chống không nổi, tử trận. Hai tướng và hai bà vợ của ông tự vẫn ở Ao Nâu, cạnh gò Đồng Đậu.

Sau khi Đinh Bộ Lĩnh tấn công thành Hồi Hồ, tướng quân Kiều Thuận chống không nổi đành vượt sông Hồng chạy sang thành Mè kết hợp với Ma Xuân Trường chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh đánh chiếm thành Mè, Kiều Thuận tử trận. Ma Xuân Trường chạy lên Yên Bái trốn thoát. Ngày nay, thị xã Phú Thọ còn dấu tích thành Mè. Làng Trù Mật xã Văn Lung thị xã Phú Thọ có đền thờ Ma Xuân Trường và Kiều Thuận.

Theo thần tích ở xã Bình Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh) thì Lý Khuê đánh nhau với Đinh Bộ Lĩnh bị thua và mất ở làng Dương Xá (nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội).

Đầu năm 968, sau khi chiếm lại vùng Bắc Ninh, vốn do các sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp và Lý Khuê cát cứ, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh chuyển quân về Siêu Loại, cho Đinh Liễn và Nguyễn Bặc đem ba ngàn quân tiến đánh quân Lã Đường. Lã Đường chủ trương tản quân, đóng giữ chỗ hiểm yếu. Hễ quân Hoa Lư đi đông thì tránh mà đi lẻ là chặn đánh, diệt một vài lính, rồi lại bỏ chạy. Nguyễn Bặc bày kế cho quân Hoa Lư tập trung, tập kích quân lương tiếp vận của quân Lã Đường. Trong vòng 7 ngày, vòng đai phòng thủ bên ngoài của quân Lã Đường bị tiêu diệt hoàn toàn, Đinh Liễn, Nguyễn Bặc đánh sâu vào trung tâm, bắt được Lã Đường, chém chết, thu phục hoàn toàn đất Tế Giang.

Chiêu hàng

Để thực hiện nhiệm vụ dẹp loạn và thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh đã khôn khéo vận dụng kế sách chính trị kết hợp với quân sự. Khi lực lượng còn non yếu, ông đã liên kết với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình) rồi thu phục được Phạm Bạch Hổ ở Đằng Châu (Hưng Yên) về làm Thân vệ tướng quân. Cuối cùng khi lực lượng đủ mạnh ông không tiêu diệt mà hàng phục Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm (Hà Nội), Ngô Xương Xí ở Bình Kiều (Thanh Hóa) vốn là những hậu duệ nhà Ngô để lấy lòng thiên hạ.

Nhận định: Con người của Đinh Bộ Lĩnh ngay từ ban đầu đã tỏ ra là khí phách hơn người,

Qua những trận đánh ta thấy được rằng Đinh Bộ Lĩnh có may mắn nhìều hơn sự thông minh trong quân sự. Nhưng không phải là ông không có tài quân sự như các vị vua khác mà chúng ta thấy nhiều hơn ở ông khí thế như chẻ tre và lòng quả cảm của một con người chiến đấu. Bởi chiến thắng của ông đã khiến cho tướng lĩnh và dân chúng khâm phục mà ông được tôn lên làm vua. Việc xưng vua của ông liền thay đổi một triều đại. Sau những trận đánh đó mà Việt ta thu về một mối, dẹp yên loạn lạc nước hòan tòan thống nhất.  

3/ Mở nước, lập đô, đổi xưng Hoàng đế

Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, và định đô ở Hoa Lư (nay thuộc Ninh Bình). Đinh Tiên Hoàng cho xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ.

Nhà Đinh cũng là triều đại đầu tiên đặt nền móng cho nền tài chính - tiền tệ của Nhà nước phong kiến Việt Nam, đồng tiền tệ xưa nhất ở Việt Nam ra đời năm 970, gọi là đồng tiền Thái Bình.

Khi thắng lợi việc xưng đế của ông là hòan tòan phù hợp trong điều kiện này. Ông xưng đế và được ca tụng như vị vua đầu tiên của Việt ta. Ông lập kinh đô cho xây cung điện, thiết lập một thể chế hòan tòan mới, tạo ra một triều đình phong kiến, nước ta trở nên nước tự trị có Vua, được các nước xung quanh công nhận.

4/ Nội trị:

Về chính trị: Ông dùng hình phạt nghiêm khắc, dùng uy chế ngự thiên hạ, lập vạc dầu và nuôi hổ. Nếu ai vi phạm bỏ vạc dầu, cho hổ ăn thịt. Mọi người đều sợ không ai dám vi phạm.

Về ngoại giao: để tránh cuộc đụng độ, năm Nhâm Thân 972, Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn sang cống nhà Tống Trung Quốc. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Từ đó Đại Cồ Việt giữ lệ sang triều cống phương Bắc. Từ năm Thái Bình thứ 7, thuyền buôn của các nước ngoài đến dâng sản vật của nước họ. Kết mối giao thương.

Về quân sự: Đinh Tiên Hoàng phân ra đạo, quân, lữ, tốt, ngũ. Mỗi một đạo có 10 quân, 1 quân 10 lữ, 1 lữ 10 tốt, 1 tốt 10 ngũ, 1 ngũ 10 người. Như vậy quân đội nhà Đinh khi đó có 10 đạo, là khoảng 1 triệu người trong khi dân số đất nước khoảng 3 triệu. Vua thực hiện “ngụ binh ư nông”, đó là hình thức vũ trang toàn dân, dựa vào nghề nông mà phát triển quân đội.

Trong công cuộc cai trị đất nước mà ông dựng nên, ông cai trị cách rất nghiêm khắc, qua việc dựng vạc dầu đã thấy ông là người rất luật pháp và nghiêm minh khiến mọi người đèu sợ cả. Tuy nhiên dẫu sao ông cũng tạo ra cho đất nước một pháp chế để tòan dân có cái quy chuẩn mà làm theo, trong thời đầu của thể chế.

Trong việc ngoại giao ông Vua này cũng thể hiện là người khéo léo biết lo xa. Khi Ông dùng con trai trưởng của mình làm sai sứ sang nhà Tống mội đất nước có thế lực mạnh. Việc này vừa lấy lòng Vua Tống, vừa làm yên bề đât Việt khiến đất nước có được sự phát triển thanh bình sau mấy chục năm lọan lạc. Không chỉ vậy còn cho nước ta một mối giao thương.

Trong quân sự ông sử dụng chính sách ngụ binh trong thời bình, sựa vào sức dân mà làm binh dựa sức binh mà làm nông nghiệp phát triển kinh tế. Và trong đó để điều chỉnh và lãnh binh dùng tướng ông đã có cách dùng khôn ngoan chia theo từng lớp từng tầng bậc mà dễ dàng đếm biết được số quân và số binh dụng. Để khi chiến loạn xảy ra không mắc và thế bị động mà bị mất nước.

5/ Con trưởng là Đinh Liễn, nhưng Đinh Tiên Hoàng lại lập con út là Hạng Lang làm Thái Tử dù mới lên 4 tuổi , vì vậy đầu năm 979 Đinh Liễn tức giận sai người giết Hạng Lang. Theo chính sử, cũng năm này năm Kỷ Mão 979 một viên quan phản nghich là Đỗ Thích nằm mơ có điềm báo được làm vua nên đã giết chết cả Vua và Đinh Liễn. Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, hưởng thọ 56 tuổi.

Sự kiện cái chết của Đinh Tiên Hoàng còn nhiều nghi vấn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiện đại khẳng định chắc chắn Tiên Hoàng bị hại không phải vì Đỗ Thích muốn đoạt ngôi và có nhiều ý kiến nghiêng về khả năng thủ phạm là Lê Hoàn và Dương hậu

Câu truyện lập thái tử của Vua Đinh nghĩ thật đáng trách. Không hiểu saoVua lại lập Thái Tử lúc Hạng Lang mới có bốn tuổi, không hề công cán, hay bộc lộ một phẩm chất gì, làm người anh ghen tức Vua không sáng xuất  trong điều này. Hai nữa là Vua nghiêm với dân nhưng không nghiêm với con mình. Có lẽ ông đã khinh xuất mà không bao giờ nghĩ rằng con trưởng lại giết Thái Tử. Hành động thiếu suy nghĩ của Đinh Liễn là một cái cớ dẫn đến nhà Đinh mất nghiệp sau này khi tên Đỗ Thích thấy đó như là một cơ hội cho mình. Khiến cho nhà Đinh vì con mà sự nghiệp công sức Cha dựng cơ đồ rơi vào tay kẻ khác cách dễ dàng. Ta cũng cảm thấy rằng thì sự nghiệp mà Đinh Bộ Lĩnh dựng nên thì cũng chính tay ông làm mất. Trong một việc hết sức tầm thường so với dẹp lọan của ông. Và cũng trách cho đời ông lấ phải bà vợ là Dương Hậu.  Đinh Bộ Lĩnh cũng giống như tần Thủy Hoàng bỗng chợt tảo sáng thật chói lọi song vội vàng vụt tắt chỉ còn vang lại dư âm.

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

"Đế vương dấy nghiệp không ai không nhờ ở trời. Nhưng thánh nhân không cậy có mệnh trời mà làm hết phận sự của mình. Việc đã thành, lại càng lo nghĩ đề phòng. Sửa sang lễ nhạc hình án chính sự là để phòng giữ lòng người. Đặt nhiều lần cửa, đánh hiệu canh là đề phòng kẻ hung bạo. Bởi vì lòng dục không cùng, việc đời không bến, không thể không đề phòng trước… Cho nên Tiên Hoàng không được trọn đời là do chưa làm hết việc người, không phải mệnh trời không giúp. Cũng vì vua không giữ được trọn đời khiến cho cái thuyết sấm đồ đắc thắng, đời sau không thể không bị mê hoặc vì điều đó."

- Đinh Phế Đế (974 – 1001) là vị vua thứ hai, cũng là vị vua cuối cùng của nhà Đinh. Đinh Phế Đế tên thật là Đinh Toàn hoặc Đinh Tuệ, sinh năm Giáp Tuất 974. Ông lên ngôi sau khi Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị giết hại.

Vua ở ngôi 8 tháng, đặt niên hiệu là Thiên Phúc. Tháng 7 năm Canh Thìn (980), vì vua còn quá nhỏ (6 tuổi) mà tình hình đối nội cũng như đối ngoại lại rất rối ren. Dương Vân Nga thay con cầm quyền trị nước cũng thấy rõ chỉ có Tập đạo tướng quân lê Hoàn là người có khả nǎng gỡ rối được tình hình nghiêm trọng cần kíp lúc này. Huống chi ý chí quân đội cũng muốn tôn người chỉ huy của họ lên ngôi tối thượng, thay cho vị vua 6 tuổi là con Dương Vân Nga. Bởi vậy, Dương Vân Nga đã lấy chiếc long bào choàng lên vai Lê Hoàn trong tiếng hò reo dậy trời của quân sỹ. Các đại thần Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp thấy quyền lực rơi vào tay Lê Hoàn, lại nghi Dương Vân Nga cùng Lê Hoàn tư thông nên cử binh đến đánh. Lê Hoàn dẹp tan, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp đều bị giết. Phò mã nhà Đinh là Ngô Nhật Khánh bỏ trốn vào nam, cùng vua Chăm Pa với hơn nghìn chiến thuyền định đến đánh kinh đô Hoa Lư nhưng bị bão dìm chết. Vua từ đó bị phế làm Vệ Vương, bị mất năm Tân Măo (991) khi đi đánh trận, thọ 17 tuổi. Khi Lê Hoàn lập Dương Vân Nga làm hoàng hậu, chính sử ghi rõ: "Vua lập Đại Thắng Minh hoàng hậu triều Đinh làm hoàng hậu" và các sử gia rất nặng lời với Lê Hoàn trong việc này. Qua việc gọi bà là "Đại Thắng Minh hoàng hậu" đó có thể thấy được vai trò của bà trong hoàng cung nhà Đinh.

Nhà Đinh chỉ còn lại vị Vua 6 tuổi thì làm được gì, chỉ làm cho trong nước thêm loạn lạc. Vị Vua 6 tuổi này đã kết thúc nghiệp nhà Đinh, thực chất thì chẳng cầm chính trị giờ nào.Và kết thúc cho triều đại nhà Đinh, ai khi nghiên cứu sử quá đây thì đều nghĩ nhà Đinh mất nghiệp là do bà Dương Vân Nga tư thông với Lê Hòan.

Vậy là Đinh tồn tại được 12 năm, truyền được hai đời vua (thực chất chỉ có 1 đời Vua Tiên Hoàng).

Tổng kết.

Đinh Tiên Hoàng là vị vua sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt trong lịch sử Việt Nam. Ông là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam. Đinh Bộ Lĩnh mở nước, lập đô, lấy niên hiệu với tư cách người đứng đầu một vương triều bề thế: Thời kỳ phục quốc của Việt Nam, từ họ Khúc chỉ xưng làm Tiết độ sứ, tới Ngô Quyền xưng vương nhưng tới vua Đinh xưng làm hoàng đế. Sau hai vua nhà Tiền Lý xưng đế giữa thời Bắc thuộc rồi bị thất bại trước họa ngoại xâm, 400 năm sau người cầm quyền Việt Nam mới thực sự vươn tới đỉnh cao ngôi vị và danh hiệu, khẳng định vị thế vững chắc của quốc gia độc lập, thống nhất qua các triều đại Đinh – Lê – Lý – Trần và buộc các điển lễ, sách phong của cường quyền phương Bắc phải công nhận là một nước độc lập. Từ Đinh Bộ Lĩnh trở về sau, các Vua không xưng Vương hay Tiết độ sứ nữa mà đều xưng Hoàng đế như một dòng chính thống. Đinh Tiên Hoàng là vị hoàng đế đặt nền móng sáng lập nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam, vì thế mà ông còn được gọi là người mở nền chính thống cho các triều đại phong kiến trong lịch sử.

Sưu Tầm - Tổng Hợp- Nhận Định

Lê Lộc

(Hình ảnh được lấy từ trang : http://tamhoc.com/2012/12/nguoi-hung-dat-viet-dinh-bo-linh/)

Bạn nghĩ sao về bài viết này ?

Bình luận về bài viết Nhận Định Về Đinh Bộ Lĩnh và Triều Đại Ông Dựng Nên

Bài viết mới đăng

wanna join us!

Hãy tham gia cùng chúng tôi

Tại ReadZo, có rất nhiều cơ hội để phát triển kĩ năng viết đồng thời tạo dựng nguồn doanh thu. Nếu bạn đang tìm kiếm một phương thức kiếm tiền online thì ReadZo sẽ giúp bạn.

Tìm hiểu thêm
Trở thành tác giả chuyên nghiệp và tự chủ tài chính