Điện ảnh

Điểm phim Việt Nam thời kỳ 1959 - 1965

ReadzoTóm lược điện ảnh Việt Nam giai đoạn 1959 - 1965, cùng thông tin và nhận xét cá nhân về ba bộ phim tiêu biểu: Vợ chồng A Phủ, Con chim Vành Khuyên, Chị Tư Hậu.

Summergrass

Summergrass

16/12/2014

1333 Đã xem

Chiến tranh qua ống kính

Chiến tranh luôn là đề tài có nhiều điều để khám phá. Nhất là đối với những người làm nghệ thuật sống trong thời đại đó. Giai đoạn 1959 – 1965 ở Việt Nam không chỉ ghi nhận sự ác liệt của chiến tranh qua những ghi chép mà còn lưu dấu qua những tác phẩm nghệ thuật. Điện Ảnh Việt Nam tuy ra đời muộn và còn nhiều lạc hậu nhưng cũng kịp góp mặt trong đó. Thành công nhất trong giai đoạn này là đề tài Kháng chiến chống Pháp.

Thời kì này, Việt Nam sản xuất được 18 phim truyện. Trong số đó có tới 11 bộ phim đề tài kháng Pháp và chỉ có 6 phim về đề tài xây dựng cuộc sống mới. Đa phần trong số đó là nhũng tác phẩm có kịch bản cải biên từ tác phẩm văn học như Vật kỷ niệm, Vợ chồng A Phủ, Con chim vành khuyên, Chị Tư Hậu... Chỉ một số ít đựoc làm theo kịch bản điện ảnh như Hai người lính, Một ngày đầu thu....

Cảnh trong phim Chung một dòng sông

Cảnh trong phim Chung một dòng sông

Nguồn : mananhnho.net

Những bộ phim đề tài kháng Pháp trong thời kì này là một tấm màn phản chiếu những hồi ức của các nghệ sĩ- những người trực tiếp trải qua chiến tranh và nếm trải những khó khăn gian khổ, mất mát đau thương; những người đã cống hiến thanh xuân và sức lực vì lí tưởng tự do. Vì vậy không có gì lạ khi các bộ phim đều như một sự hoài niệm, ca ngợi, ghi công và trả ơn với cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; cùng với lí giải về chủ nghĩa anh hùng cũng như nguyên nhân thắng lợi.

Sau bộ phim truyện đầu tiên là Chung một dòng sông của đạo diễn Nguyễn Hồng Nghi và Phạm Kỳ Nam, các bộ phim về sau đều có sự đào sâu tìm tòi sáng tạo trên mọi khía cạnh. Nhất là những phim đề tài kháng Pháp. Sự trưởng thành dần dần của cả đội ngũ đạo diễn, biên kịch, quay phim, diễn viên... dần đưa điện ảnh Việt Nam, mà thời kì này là phim truyện cách mạng lên một tầm cao mới.

Tất nhiên, do Điện ảnh Việt Nam đi chậm so với nền điện ảnh thế giới vì nhiều nguyên nhân nên những bộ phim thời kỳ này cũng tồn tại rất nhiều hạn chế.

Năm 1961 có  3 bộ phim được ra mắt: Vật kỷ niệm, Lửa trung tuyến và vợ chồng A Phủ. Qua ba bộ phim này người ta cũng thấy phần nào sự sáng tạo trong làm nghệ thuật của các nhà làm phim thời đó. Vật kỷ niệm thể hiện khuynh hướng hiện thực trong mô tả; Lửa trung tuyến thể hiện một tinh thần lạc quan, nhấn mạnh chất hào hùng, sôi nổi. Vợ chồng A Phủ lại được đặc biệt nhấn mạnh vào việc khắc họa tính cách và số phận  nhân vật. 

Vợ chồng A Phủ

Vợ chồng A Phủ được cải biên do nhà văn Tô Hoài từ chính tác phẩm cùng tên nổi tiếng của ông. Câu chuyện kể về Mị - một cô gái đẹp người đẹp nết phải làm dâu nhà thống lí để trả nợ cho bố; và A Phủ - người bị phạt vạ vì đã đánh con trai thống lí. cùng một sự đồng cảm trong nỗi niềm bị áp bức, mà cao trào là khi Mị bị trói đứng vào cột và A Phủ bị vạ khi làm mất bò, hai người đã cùng nhau bỏ trốn. Có khá nhiều điểm khác nhau giữa tác phẩm văn học và kịch bản điện ảnh, trong đó điểm khác nhau lớn nhất là việc Mỵ không trốn thoát được như trong truyện, mà trong phim cô bị bắt lại. Chỉ có A Phủ trốn thoát, sau đó anh làm du kích quay lại giải cứu Mỵ. Đây cũng là sự thay đổi mang tính quyết định tạo nên sự cân đối về kịch tính giữa hai phần trước sau, khiến đoạn sau nổi bật lên, làm tăng tính hấp dẫn của câu chuyện. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết cho tới cuối cùng khi A Phủ trở về, A Sử bị giết và Mị được giải thoát cũng sự làm chủ của quân ta tại Hồng Ngài. Chuyện này tất nhiên vì phục vụ mục đích kháng chiến, nhưng theo tôi cũng khá sáng tạo. Tiếc là nó lại vô tình tước đi phần nào đất diễn của Mị.

Bộ phim đã xây dựng được một số hình ảnh mang tính nghệ thuật. Trong đó ấn tượng nhất có lẽ chính là “người vợ cả” của A Sử. Người vợ cả ấy là cái tương lai của Mị nếu cô cứ chôn vùi trong cái nhà này. Hình ảnh bà vợ cả rũ rượi tóc, bước vật vờ theo Mị như một bóng ma; hay bà vợ cả xay ngô, hai con mắt chằm chằm nhìn Mỵ, vừa đau đớn vừa oán hận, lắc lư theo nhịp cối xay. Tất cả gợi nên sự ám ảnh và số phận bạc bẽo được dự báo trước của Mị.

Bên cạnh đó còn một điều đáng mừng. Lần đầu tiên, mối quan hệ giữa đạo diễn và biên kịch được đặt ra. Vai trò của hai bên được đặt ngang nhau trong một quan hệ bình đẳng và bổ sung cho nhau để tạo ra những tác phẩm điện ảnh có giá trị.

Vợ chồng A Phủ cũng có nhiều mặt hạn chế. Ngôn ngữ điện ảnh trong tác phẩm còn yếu, thể hiện sự lạc hậu về công nghệ. Các cảnh trong phim nhiều khi lộn xộn, thiếu tính liền mạch khiến cho khán giả khó theo dõi. Một khung hình hay có tình trạng tràn ngập các nhân vật thừa thãi. Việc lạm dụng thủ pháp hồi tưởng khiến tính điện ảnh của phim bị ảnh hưởng. Đây là một thủ pháp cũ kĩ đã không còn được sử dụng trên thế giới từ lâu.

Nhưng khoan nói tới những điểm yếu trên, lỗi lớn nhất đập vào mắt tôi khi xem phim lại thuộc về Tô Hoài – tác giả đồng thời là biên kịch phim. Trong truyện, Mị gặp A phủ lần đầu tiên khi nàng nhóm lửa, rồi nhóm luôn sự bột phát trong hành động điên rồ của chính nàng – một cô dâu gán nợ. Ở đây, Mị và A Phủ là những người cùng khổ tìm thấy hơi ấm bên nhau, đề cao giá trị con người thì bộ phim lại đánh rơi sự tinh tế đó. Phim xây dựng Mị và A Phủ đã gặp gỡ nhau trước đó, theo ngôn ngữ hiện đại, có thể gọi là “có gian tình.”

Vậy thì họ rủ nhau chạy trốn đâu còn là sự đồng cảm của những con người khốn khổ muốn tìm một lối thoát cho số phận bị đày đọa nữa, nó giống cuộc đào thoát không thành của đôi tình nhân hơn. Thay vì khắc họa mối quan hệ giữa con người – con người, bộ phim đã chuyển tới 80% thành quan hệ tình cảm nam – nữ.

Tôi tình nguyện tin rằng Tô Hoài chỉ đứng tên chấp bút, còn người sửa chi tiết này đến tơi tả như thế là đạo diễn.

Mị và A Phủ đã quen biết từ lâu trước khi chạy trốn

Mị và A Phủ đã quen biết từ lâu trước khi chạy trốn

Nguồn : mananhnho.net

Con chim Vành Khuyên

Năm 1962 là một năm đầy bước ngoặt với điện ảnh Việt Nam với những tác phẩm của lớp đạo diễn đầu tiên của trường Điện ảnh Việt Nam ra trường.

Con chim Vành khuyên của Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ là bộ phim tiêu biểu nhất. Kịch bản do Nguyễn Văn Thông viết từ một truyện ngắn của chính mình tên là “ Câu chuyện về một bài ca”. Phim có cốt truyện hết sức đơn giản về bố con bé Nga sống bằng nghề chài lưới, đưa đò ven sông. Bé Nga tuy còn nhỏ nhưng cũng mong trở thành cán bộ và đựoc đưa đò nhưu bố. Khi bọn Pháp biết được, chúng giăng bẫy, bắt và tra tấn người bố, bắt bé Nga nhảy dây để cán bộ bên kia sông không nghi ngờ, chúng cho tuyền sang đón bắt cán bộ. Bé Nga đã dũng cảm chạy ra sông, mặc cho súng đạn của giặc. Em thét to báo cho cán bộ biết có địch, nhưng đồng thời cũng bị thương. cảnh cuối cùng cũng là điểm nhán của phim: Trước khi trút hơi thở cuối cùng, Nga cố thả từ trong túi con chim vành khuyên nhỏ bé mà em rất đỗi yêu quý. Con chim vành khuyên bay lên cao trên bầu trời xanh như biểu tượng cho khát vọng tự do, hòa bình.

Diễn viên Tố Uyên trong vai Nga

Diễn viên Tố Uyên trong vai Nga

Nguồn : blogradio.vn

Phim được làm theo phong cách thơ, không có cốt truyện chặt chẽ, không có nhiều sự kiện phức tạp, không xung đột căng thẳng giữa địch và ta và địch. Trong phim người xem cảm nhận được không khí thanh bình, yên ả của làng quê Việt Nam với cây cối, dòng sông thơ mộng, bầu trời trong trẻo và cô bé Nga hồn nhiên, đáng yêu.

Các chi tiết hình ảnh trên không tham gia vào cốt truyện mà chỉ nhằm tạo không khí cho phim. Chính yếu tố dàn cảnh trong phim: nhấn mạnh phong cảnh đã trở thành đặc điểm đặc trung trong phim truyện Việt Nam sau này, không chỉ trong điện ảnh. Vì phong cảnh luôn hòa với cảm xúc của con người nên nó càng đóng một vai trò đặc biệt trong việc lột tả cảm xúc nhân vật. Mỗi sự kiện không hàm chứa ý nghĩa khái quát nào mà chỉ nhằm tạo nên cảm xúc. Để từ cảm xúc đưa người xem khám phá những liên tưởng và ý nghĩa của bộ phim.

Khi ra mắt bộ phim được cả công chúng lẫn giới chuyên môn đón nhận nhiệt tình. Nhiều lời khen ngợi được dành cho Con chim Vành khuyên và hai đạo diễn Nguyễn Văn Thông, Trần Vũ. Ngoài ra vai trò của người quay phim cũng được nhấn mạnh. Cụ thể ở đây, người quay phim Nguyễn Đăng Bảy đã góp phần đưa thiên nhiên đầy chất thơ vào bộ phim từ góc máy, vị trí đặt máy, ánh sáng... Bộ phim có nhiều cảnh có thể xem như tác phẩm nhiếp ảnh.

Bên cạnh nhiều lời khen ngợi cũng có ý kiến về hạn chế của bộ phim. Trong đó chủ yếu là phản đối về việc xây dựng không khí thanh bình trong khi cả nước chìm trong tang thương và khói lửa chiến tranh. Tuy nhiên ý kiến này, dù không có phản bác, về sau cũng không còn được nhắc tới. Càng về sau người ta càng nhấn mạnh giá trị nhân đạo của phim.

Cá nhân tôi không thấy có vấn đề gì với không khí của bộ phim mà chỉ không thích lắm đoạn chèo thuyền và phần cuối khi Nga chết. Tôi nghĩ đó là hai đoạn hay nhất phim, lẽ ra nên chỉnh chu, trau chuốt và đẩy cảm xúc lên cao nữa, cho nhân vật hành động quyết tuyệt hơn nữa.

Nhìn chung, Con chim Vành Khuyên là một phim xem được, ít nhiều gợi cảm xúc và đôi chút chất thơ.

1962 Con chim Vành khuyên được trao giải đặc biệt tại Liên hoan phim quốc tế Carlovy Vary tại Tiệp Khắc cho thể loại phim ngắn – giải thưởng quốc tế đầu tiên cho phim Việt Nam. Tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai 1973 phim được trao giải Bông Sen Vàng.

Chị Tư Hậu

Nói đến mảng đề tài Kháng chiến chống Pháp, không thể bỏ qua bộ phim Chị Tư Hậu (1963) của đạo diễn Phạm Kỳ Nam, được làm theo phong cách hiện thực tâm lý.

Phim có kết cấu theo kiểu cổ điển chặt chẽ gồm năm phần: giao đãi, thắt nút, phát triển, cao trào, kết. Có thể thấy rõ năm phần: Phần 1- Giao đãi: đoạn ở trong bệnh viện khi chị Tư Hậu ngồi đan áo và nói chuyện với cô ý tá, bắt đầu hồi tưởng lại câu chuyện. Phần 2 – Thắt nút: Chuyện chị Tư Hậu lúc còn trẻ, khi chồng đi vắng chị bị một tên Pháp cưỡng bức. Phần 3 – Phát triển: Quá trình chị Tư Hậu đến với cách mạng, dần trở thành một người đóng vai trò chủ chốt. Phần 4 – Cao trào: điểm nhấn là việc con chị Tư Hậu bị bọn lính bắt giữ, chị tìm cách cứu con ra. Phần 5 – Kết: Cuộc tấn công vào đồn địch, chị Tư Hậu cứu được con và chiến thắng.

Bộ phim khắc họa hình tượng người phụ nữ Việt Nam, những người chịu tủi nhục, bị chà đạp vươn lên thành con người tự do, đấu tranh để tự giải phóng mình trong công cuộc giải phóng cả dân tộc.

Cũng như Vợ chồng A Phủ, Chị Tư Hậu được nhà văn Bùi Đức Ái chuyển thể từ tiểu thuyết” Một chuyện ngắn chép ở bệnh viện” của chính ông. So với nguyên mẫu truyện, kịch bản điện ảnh được thay đổi một số điểm khiến giá trị tư tưởng và nghệ thuật của hình tượng chị Tư Hậu được nâng cao. Ví dụ trong tiểu thuyết, sau khi chị Tư Hậu tham gia du kích, Hai Báu bắt con chị, khi đanh đồn anh em du kích cứu con chị ra nhưng chị không tham gia trânh đánh. Trong phim chị Tư Hậu không những tham gia tranh đánh mà còn có vai trò chỉ huy.

Hay trong tiểu thuyết chị Tư Hậu nằm viện vì lao phổi, trong phim chị vào bệnh viện vì đạn của kẻ thù. Nhờ vậy Chị Tư Hậu được đánh giá là tác phẩm chuyển thể thành công nhất từ văn học. Phim vẫn trung thành với văn học đồng thời là một tác phẩm điện ảnh độc lập. 

Tuy nhiên cách kể chuyện của phim đi theo lối mòn. Cả bộ phim trừ phần thứ nhất thì tất cả đều nằm trong sự hồi tưởng của chị Tư Hậu. Nói cách khác bộ phim sử dụng thủ pháp hồi tưởng cũ kĩ cũng như Vợ chồng A Phủ.

Trong ba phim thì Chị Tư Hậu là phim tôi không thích nhất. Đôi chỗ cảm thấy cực kỳ bực mình, lửng lơ khi những xung đột ngay trước mặt tưởng như sắp xảy ra mà người làm phim lại né đi. Và tôi luôn cho rằng Trà Giang không phải một diễn viên xuất sắc. Vai diễn trong phim này cũng như một số phim khác của nữ diễn viên gạo cội đều không thuyết phục với tôi.

Phim được tặng Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Moscow 1963. Đây là giải thưởng cao đầu tiên cho điện ảnh Việt Nam trên màn ảnh quốc tế. Năm 1973, Chị Tư Hậu được trao giải Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ hai

Diễn viên Trà Giang trong vai chị Tư Hậu

Diễn viên Trà Giang trong vai chị Tư Hậu

Nguồn : blogradio.vn

Không chỉ nằm ở nghệ thuật

Nếu dùng con mắt của lý thuyết điện ảnh hiện đại, có thể tìm ra được khoảng mười trang giấy gạch đầu dòng những lỗi từ cơ bản đến chi tiết của các bộ phim trên. Và bình thường, tôi cũng sẽ không bỏ thời gian ngồi xem những bộ phim đậm tính tuyên truyền, thiếu cao trào, xử lý đơn điệu như thế.

Nhưng dù còn nhiều hạn chế về nội dung, nghệ thuật... thì có lẽ cũng không nên phủ nhận những đóng góp của điện ảnh Việt Nam cho kháng chiến thời kỳ này - thời kỳ mà cả nước đều hướng về cuộc chiến đấu vì hòa bình dân tộc. Trong bối cảnh như thế, nội dung tư tưởng của phim bị chi phối mạnh bởi chính trị cũng là điều dễ hiểu.

Giữa mưa bom bão đạn, đói khổ thiếu thốn, thế hệ nhà làm phim thời kỳ đầu đã đem những thước phim đen trắng đó ra thế giới và mang về những thưởng quốc tế đầu tiên cho nền điện ảnh non trẻ nước ta. Đó là điều mà tôi cho rằng bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng cần trân trọng.

 

Quay lại

Bạn có hài lòng với bài viết không?

Rất hài lòng, bài viết chi tiết và thú vị
Chỉ thích một phần bài viết
Không có gì đặc biệt, cần đầu tư hơn
Không, bài viết quá dở
Vui lòng nhập mã xác thực trước khi nhấp bình chọn Bình chọn

Xem kết quả

Bạn nghĩ sao về bài viết này ?

Bình luận về bài viết Điểm phim Việt Nam thời kỳ 1959 - 1965

Bài viết mới đăng

wanna join us!

Hãy tham gia cùng chúng tôi

Tại ReadZo, có rất nhiều cơ hội để phát triển kĩ năng viết đồng thời tạo dựng nguồn doanh thu. Nếu bạn đang tìm kiếm một phương thức kiếm tiền online thì ReadZo sẽ giúp bạn.

Tìm hiểu thêm
Trở thành tác giả chuyên nghiệp và tự chủ tài chính