Chia sẻ kinh nghiệm

Nói trước đám đông - Sao không dám nói (Phần Ba)

ReadzoPhần Hai đã chỉ các bước bài bản trong chuẩn bị, Phần Ba sẽ thêm mắm muối cho các bước đó thơm tho hơn...

Feliht

Feliht

22/12/2014

770 Đã xem

Ở Phần Hai đã nêu bài bản năm bước chuẩn bị cho một phần nói trước đám đông. Phần Ba sẽ xoáy vào những thứ cần nhớ: những hiệu ứng, những kĩ năng hoặc bất kì thứ gì có tác dụng tăng tính hiệu quả cho bài nói. Chúng như gia vị giúp người nghe bùi lỗ tai hơn.

          I. ĐAM MÊ

          Ôi cái từ này nghe thấy nó hoành tráng, nhưng ở đây hiểu đơn giản là sự hứng thú, người nói đặt tình cảm vào bài nói của mình thì chắc chắn tự nhiên lời nói nó có hồn hơn. Theo đó có 3 khía cạnh cần lưu ý:

  • Trung thực: có thì nói không thì thôi. Khi chuẩn bị đã tìm tư liệu gì thì khi nói sẽ truyền tải hoặc chia sẻ những hiểu biết đó. Đừng có “thay lời muốn nói” cho bất kì ai, và cũng đừng bóp méo thông tin nhằm đạt mục đích đen tối.
  • Thành thật: hãy nhớ: bản thân thông tin là vô nghĩa. Chính cái sự diễn dịch và chia sẻ, truyền tải cho nhau mới làm cho chúng có ý nghĩa. Ví dụ thân thuộc: đưa tờ polyme 500 ngàn VND cho đứa em, nó xé chơi rất vui, bởi vì nó không hiểu con số 500 có nghĩa lý gì. Thông tin của chúng ta cũng vậy, nó là thực, tức hiện thực có nó. Chúng ta diễn dịch thì từ cái thực đó, kết hợp cái chân thật của mình, biến nó thành thứ có giá trị.
  • Tự nhiên: nhiều người khi nói cứ phải điệu bộ và cốt cách. Không. Cứ là bản thân, với tất cả những âm điệu, thanh sắc biến chuyển, với con người của chính mình, bạn nói và người ta nhìn vào biết rằng đó là bạn đang nói. Vậy nên nói là cả một nghệ thuật, phải học, phải trải.

 

          II. ÁNH MẮT

  • Hãy nhớ, đôi mắt là công cụ hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe về sự chân thật, cởi mở và tự tin của bạn. Nghe qua thấy “trường lớp”, nhưng không, rõ ràng khi mình nghe mình nhìn mắt người ta, mình cảm được người này hiền dữ, nhiệt tình hay “khó gần”, thấy cả được “nét cười” trong mắt người ta. Vậy tương tự, khi bạn nói, người ta dùng mắt của bạn để đánh giá bạn. Bạn hãy nhìn người ta bằng ánh mắt và nụ cười để cái bài nói của mình được lót ngay từ mở màn một tâm trạng cầu thị đầy cởi mở từ quần chúng.
  • Có một sự cực kì thú vị về đôi mắt, đó là cái vũ khí tối thượng để tiếp nhận thông tin. Khi bạn nói bạn dòm người khác thì cũng là lúc bạn đang “phán xét” đối phương, tức xem xem họ phản ứng thế nào về bài nói của mình. Mọi thông tin xảy ra trong bối cảnh nói đều được xử lý qua đôi mắt trước hết nên người nói càng phải banh mắt mà nhìn để kịp thời ứng xử. Ví dụ thân thuộc: đang thuyết trình thấy một rừng người hướng mắt nhìn đồng hồ thì biết rằng mình nên nói nhanh hơn để… kết thúc.

 

          III. ÂM SẮC

          Cái này mới nghe thấy chuyên môn, nhưng không, nghe tiếp thấy dễ gần.

  • Âm lượng: độ to nhỏ của âm thanh, được dùng đầy mục đích khi muốn nhấn mạnh, khi nói về những kỉ niệm buồn, khi trình bày các lĩnh vực mang tính chính trị cần hùng hồn,… Khi đó, một cách tự nhiên, bạn thấy bạn to nhỏ tài tình.
  • Độ cao: thường để nhấn trọng âm hoặc trong các câu cảm thán, nghi vấn, lên cao giọng,… Tất cả đều có mục đích cả. Nếu không có, làm ơn cũng phải thay đổi cao giọng chứ nếu giọng ngang phè (chuyên môn gọi là chung thủy một tần số) thì bạn sẽ được phong thánh ầu ơ.
  • Tốc độ nói: tùy thuộc chủ đề, tùy thuộc cao trào thuyết phục hoặc bất kì mục đích nào mà ta nói nhanh hay chậm. Phải chăng, tâm lý con người khi muốn lấp liếm cái gì thì nuốt chữ và nói nhanh hơn?!...
  • Ngừng nghỉ/ Im lặng: hãy hiểu rằng, trong một bài nói, nói chính là cung cấp thông tin. Sự chuyển giao giữa các thông tin (các ý khác nhau) đều có những mục đích khác nhau. Im lặng làm nền cho chúng. Mặt khác, có những lúc nội dung cần sự lắng đọng để người nghe chiêm nghiệm (sinh viên diễn kịch song song với thuyết trình chẳng hạn) thì sự im lặng lại càng có tiếng nói. “Nói trước đám đông” không có nghĩa là không được im lặng. Im lặng khi ấy càng cao siêu vì lẽ ra phải nói thì ta đây lại dùng thủ pháp im (để nhớ bài chẳng hạn).
  • Phát âm: tiếng Việt giàu và đẹp, vậy hãy nói cho chuẩn từ ngữ, đúng ngữ pháp. Khi chuẩn bị (viết ra giấy), hãy tra xem mình đã viết đúng chính tả chưa, dùng từ ngữ này có phù hợp hay không, từ nào lột tả được mục đích (mà khi nói càng phù hợp). Ví dụ thân thuộc: phải chăng chỉ cần nghe người ta phát âm hai chữ “suôn sẻ” mà cong môi cong lợi là đã thấy cảm giác… khang khác?!
  • Nói rõ ràng: không chỉ dừng ở mặt chữ, âm thanh mà còn bao luôn cả tốc độ, cao độ và tất cả các yếu tố khác. Mọi thứ phải rõ ràng vì nói chính là phương tiện, nếu qua phương tiện này mà nội dung không được truyền tải rõ ràng thì mục đích bao giờ mới đạt được?!
  • Đa dạng: tức sử dụng kết hợp các yếu tố trên và trong cùng một yếu tố cũng phải thay đổi (to nhỏ trong âm lượng, cao thấp trong âm sắc, nhanh chậm tùy mục đích, ngừng nghĩ có chủ đích,…)

 

          IV. NGÔN NGỮ

          Cái sự hơn người là ở đây. Như đã nói, tiếng Việt cực tượng thanh tượng hình, láy ghép ẩn hoán muôn trùng sặc sỡ. Dùng đúng đã tuyệt vời huống chi đắt giá thì càng tài tình. Tùy theo ba yếu tố sau mà ngôn ngữ dùng trong một bài nói của một người sẽ khác:

  • Trình độ: cái này quá rõ ràng. Nhà văn nhà thờ nói chuyện khác, bác học giáo sư nói chuyện khác, tay ngang a-ma-tơ lại càng khác. Trình độ ở đây có thể hiểu là độ sâu của học vấn, trải nghiệm (đời) hoặc có thể hiểu là kinh nghiệm, sự am hiểu/ thông thạo trong một lĩnh vực nhất định, để thấy rằng người này có thể nói rất hay ở khía cạnh này nhưng hoàn toàn “cứng lưỡi” ở khía cạnh khác, cũng như tại sao có người cất tiếng thôi là thấy một “bề dày” vô hình trong kiến thức.
  • Ngữ pháp: muốn nói hay trước hết phải nói đúng. Đúng từ đúng ngữ là một chuyện, đúng ngữ pháp là chuyện khác. Ngữ pháp thân thuộc nhất chính là câu. Câu có chủ ngữ vị ngữ, chủ động bị động, cảm thán nghi vấn,… tất cả phải đúng để diễn đạt hiệu quả mục đích nói.
  • Đàm thoại: văn nói khác văn viết. Khi chuẩn bị ra giấy, mình viết nhưng với ý niệm: viết ra cái nội dung để nói, vậy thì nó là văn nói. Tập nói để khi phát âm xem chữ đó có thuận miệng suôn tai, có lột tả được âm điệu nào không. Vậy nên bước chuẩn bị thật tối cần thiết!

 

          V. NGÔN NGỮ CƠ THỂ

          Khoa học đã chứng minh bằng các nghiên cứu và lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần về sức mạnh của ngôn ngữ cơ thể. Người nói cần lưu ý các khía cạnh sau:

  • Luôn đứng thẳng: cái này dễ hiểu. Nhìn một người khom lưng và một người đứng thẳng, bạn tự nhiên có thiện cảm với ai hơn? Tương tự cho bạn, luôn đứng thẳng khi nói. Quan trọng hơn, đứng thẳng giúp cho các thanh quản khí quản ở trạng thái tự nhiên nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến âm sắc trên kia. Ví dụ thân thuộc: bạn thử nói (hát nốt) cao mà cuối đầu khom lưng xem nó ra âm gì?
  • Nét mặt: ôi cái thần là ở đây. Con mắt của bạn nó ngự trên khuôn mặt, bản thân nó đã quan trọng nhưng những thứ còn lại cũng không kém. Một cái đá lông mày khi nói, một sự chớp chớp hàng mi khi cười, cái nhoẻn miệng không cười cũng chẳng mếu khi thốt lên,… tất cả đều làm người nghe cảm thấy bạn có… mục đích. Ví dụ thân thuộc: khi nói về chủ đề gây tranh luận thì ta thường cau mày, giơ tay múa chân hùng dũng đầy sát khí, không phải làm quá mà chỉ đang hòa vào cái tinh thần tranh luận lúc ấy. Đó là tự nhiên.
  • Tốc độ di chuyển: cái này không phải cũng áp dụng với mọi người nhưng có những người hay đi đi lại lại khi nói. Vậy thì những người đó nên lưu ý là tốc độ di chuyển nên cân bằng và phù hợp với tốc độ nói. Tức là, nếu bạn hối hả, vội vàng, đi nhanh hơn thì có nghĩa là bạn đang nói cũng bằng đó tốc độ để vấn đề ngày càng sáng tỏ hơn, tạo sự hồi hộp, giống như một cái gì đó “hoành tráng” sắp bùng nổ. Nói chậm sẽ phù hợp khi đi thong dong. Đừng nói chậm mà đi nhanh vì lúc đó bạn không còn hơi để nói. Nói nhanh mà đi chậm thì làm người nghe mệt mỏi vì họ đang tập trung nghe và tập trung theo dõi hành vi di chuyển của bạn. Bạn hãy thử quan sát, cơ thể người là một bộ máy vận hành tự nhiên một cách tuyệt vời.

 

          VI. TƯƠNG TÁC VỚI NGƯỜI NGHE

          Tương tác này không hẳn là chỉ diễn ra ở cuối một phần nói (phần Q&A trong thuyết trình chẳng hạn) mà còn ngay cả trong những lúc bắt đầu nói, dưới các hình thức sau:

  • Kêu gọi một tràng pháo tay của khán giả: bạn có thể tận dụng nó để khơi dậy tinh thần người nghe, giúp họ lẫn bạn hòa chung vào không khí của bài nói phục vụ những mục đích nhất định. Thậm chí những câu chào hỏi thông thường cũng để đánh tan cái bầu không khí đầy ám ảnh khi chỉ có một người đứng nói và trăm người xăm soi lắng nghe.
  • Kêu gọi khán giả chia sẻ những kinh nghiệm cá nhân: trong lúc bạn nói hoặc thuyết trình, có những vấn đề đa khía cạnh hoặc dễ tranh luận, hãy tận dụng và mời khán giả để họ chia sẻ suy nghĩ. Làm thế vừa giúp bạn kiểm tra xem sự lắng nghe của khán giả đang đi theo chiều hướng nào, và dù có hướng nào đi nữa thì nó cũng vừa giúp kéo lại sự tập trung cho đúng hướng mà bạn mong muốn. Mặt khác, nhờ khán giả lên tiếng còn giúp tích lũy năng lượng nói của bạn cũng như xem xét đánh giá toàn bộ những gì đã nói thâm nhập được đến đâu trong tim óc người nghe. Và tất nhiên, kêu gọi thì phải kêu gọi tự nguyện hoặc dùng quà (mồi) để nhử.

 

          VII. HIỆU ỨNG KHÁC

          Khi nói, sinh viên hoặc những ai đã đi làm trong các buổi họp thường dùng slide powerpoint để tạo hiệu ứng bắt mắt người xem, nhưng phải luôn nhớ: nội dung quyết định hình thức. Tức là, dù cho bạn có vẽ rồng vẽ phượng thì người ta vẫn đang dỏng tai để lắng nghe thứ bạn nói chứ nếu chỉ để nhìn thì người ta sẽ xin slide về tự dòm. Mặt khác, một xu thế thường thấy đó là các bạn hay phát tờ giấy dàn ý (Outline) thì càng cân nhắc rằng nếu như người ta xem qua dàn ý và thấy không có gì hay ho thì người ta càng không muốn nghe, hoặc nếu có cái gì hay thì đến lúc đó người ta mới nghe còn lại thì không. Vậy nên phải suy nghĩ: bất kì phương tiện nào đưa ra phải nhằm phục vụ, và tốt hơn là NÂNG CAO, hiệu quả mục đích thuyết trình. Nhược bằng không, dẹp!


KẾT

          Phần Một chạm khái niệm, Phần Hai chạm các bước căn cơ, Phần Ba chạm các thứ cần lưu ý. Trộn chúng lại lữ khách sẽ thấy một bài nói hoàn chỉnh không hề đơn giản nhưng cũng chẳng cao siêu, ai cũng biết và có thể làm, nhưng làm được làm tốt đòi hỏi cái nhìn toàn diện và phù hợp hơn. Phần tiếp theo sau sẽ chạm đúng chủ đề của chúng ta: “Sao không dám nói”, tức sẽ mổ xẻ các yếu tố tâm lý để những ai chưa nói được cảm thấy tự tin và nhận ra rằng: “Lưỡi không xương trăm đường lắt léo”…


PHẦN HAI: http://readzo.com/posts/5153-noi-truoc-dam-dong-sao-khong-dam-noi-phan-hai.htm

PHẦN BỐN: http://readzo.com/posts/5448-noi-truoc-dam-dong-sao-khong-dam-noi-phan-bon.htm

 

 

Bạn nghĩ sao về bài viết này ?

Bình luận về bài viết Nói trước đám đông - Sao không dám nói (Phần Ba)

Bài viết mới đăng

wanna join us!

Hãy tham gia cùng chúng tôi

Tại ReadZo, có rất nhiều cơ hội để phát triển kĩ năng viết đồng thời tạo dựng nguồn doanh thu. Nếu bạn đang tìm kiếm một phương thức kiếm tiền online thì ReadZo sẽ giúp bạn.

Tìm hiểu thêm
Trở thành tác giả chuyên nghiệp và tự chủ tài chính